|
********************************************************************************************************
Trở lại vụ thảm sát Mậu Thân 1968, tại Quận I
(Quận Thành Nội)
********
Cơ quan
t́nh báo chúng tôi không ghi nhận có một toà án Nhân dân
nào của”Chính quyền Cách Mạng Quận I” được thành lập tại
quận này. Tuy nhiên những vụ bắt bớ hành quyết đồng bào
Quận I cũng không thua ǵ Quận II.
Chỉ huy các đội Tự Vệ khu phố ngoài Tống Hoàng Nguyên,
Nguyễn Đắc Xuân c̣n có Nguyễn Đóa, Tôn Thất Dương Kỵ,
Tôn Thất Dương Tiềm, Nguyễn Hữu Vấn Chủ tịch chính quyền
Cách Mạng Quận I, Hoàng văn Giàu. Sắt máu và tàn bạo
nhất là nữ sinh Nguyễn Thị Đoan Trinh, con gái của
Nguyễn Đoá.
Đă
có nhiều nhân chứng thấy rơ những vụ xử bắn cùng khắp
Quận I, ngoài trừ khu vực hồ Tịnh Tâm, Đường Nguyễn
Hiệu, xóm Cầu Kho là ṿng đai pḥng thủ chặt chẽ của
BTL/Sư đoàn I BB.
Điển h́nh là tại ngă tư Mai Thúc Loan và Nguyễn Thành,
nhiều nhân chứng đă nhận diện được Giáo sư Tôn Thất
Dương Tiềm, cùng với một toán Việt cộïng dẫn đi 6 nạn
nhân lên thượng thành gần cửa Đông Ba, tất cả 6 nạn nhân
đều bị trói tay sắp hàng ngang sát bờ thành, và chính
Tôn Thất Dương Tiềm ra lệnh cho toán Việt cộng nổ súng
bắn chết 6 nạn nhân này.
Một vụ xử bắn khác mà nay nhắc lại mọi người vẫn c̣n
kinh tởm, đó là vụ Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thiết, Nguyễn
thị Đoan Trinh xử bắn Trần Mậu Tư và chồng bà Nội tại
cửa Đông Ba, Quận I, sáng ngày mồng 2 Tết .
C̣n nhớ vào cuộc tranh đấu 1966, Trần Mậu Tư là ĐĐT/ĐĐ2
sinh viên quyết tử của Nguyễn Đắc Xuân. Xuân và Tư t́nh
như anh em. Cuộc tranh đấu 1966 thất bại, Xuân vào trốn
tại chùa Tường Vân, dưới sự che chở của Thích Chánh Trực
và Trần Mậu Tư thường xuyên giúp đỡ Xuân trong những
ngày trốn chạy .
Đến tháng 7-1966, giao liên của cơ quan thành ủy phái
đến chùa Tường Vân đưa Xuân lên mật khu, c̣n có Trần Mậu
Tư tháp tùng, vậy mà sáng mồng 2 Tết, Tư bị lực lượng an
ninh của Xuân bắt, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thiết và
Nguyễn thị Đoan Trinh đem Tư ra xử bắn, chỉ v́ nghi ngờ
Trần Mậu tư là đảng viên của đảng Đại Việt Cách Mạng. Ba
loạt đạn AK bắn vào Tư cùng với chồng bà Nội, Tư gục ngă
ngay tại cửa Đông Ba .
Ngoài ra rất nhiều vụ tàn sát ngay tại tư gia, cũng như
tại các vùng Tây Lộc, Ḥa B́nh, khu Toà án, vùng miếu Âm
Hồn, dọc dường Đinh Bộ Lĩnh, xác người nằm la liệt, thủ
phạm là đám Đội tự vệ khu phố và nhất là tên nữ sát
nhân, nữ sát thủ Nguyễn thị Đoan Trinh, y thị cỡi xe
Honda, vai mang AK, bất kỳ ai y thị chận hỏi, nếu trả
lời là lính, là Cảnh Sát, cán bộ chính quyền, không cần
một câu trả lời thứ hai, y thị nổ súng bắn chết ngay.
Một điều lạ lùng, trời thật không có mắt, hiện nay thời
điểm năm 2008, Nguyễn Thị Đoan Trinh là một nữ thương
gia giàu có tại Sàig̣n.
T́nh h́nh chiến sự tại ba quận Thị xă Huế.
6
giờ sáng ngày mồng 2 Tết, tiểu đoàn 2 và 7 Nhảy Dù, từ
Siïa và từ cây số 17, An Lỗ về giải vây, cứu Huế.
- Trong
đêm mồng 2, TĐ7 ND đánh cận chiến với cộng quân, chọc
thủng pḥng tuyến chiếm lại cửa An Hoà.
- Ngày
2/2/68, Tiểu đoàn 2 ND, nương theo cửa An Ḥa vừa được
khai thông, đánh chiếm cửa Bắc và phi trường Tây Lộc.
- Trưa
mồng 3 Tết, hai tiểu đoàn 2 và 7 ND mới giải tỏa xong từ
cửa An Ḥa đến cửa Tây và cửa Bắc Thành Nội Huế. Bàn
giao khu vực lại cho Sư đoàn I BB.
- Trưa
mồng 4 Tết, ngày 3/2/68, Tiểu đoàn 9 ND trực thăng vận
nhảy xuống BTL/Sư đoàn I BB, tại Mang Cá Thành nội Huế.
Từ Mang Cá Tiểu đoàn 9 ND xuất phát tiến về phi trường
Tây Lộc và cửa Chính Tây, bắt tay với Tiểu đoàn 2 ND.
Tại cửa Chính Tây, quân Việt cộng chiếm bờ thành cao,
lực lượng Dù phải đợi trời tối leo lên tường cao dùng
lưởi lê đánh cận chiến với địch. Sau hai ngày giao tranh
lực lượng Dù mới kiểm soát toàn bộ cửa Chánh Tây.
- Ngày
5/2/68, tại cửa Đông Ba, Việt cộng đặt thượng liên trên
cửa thành, Tiểu đoàn 2 Dù xung phong chiếm mục tiêu
nhưng vô hiệu, BCH/Chiến đoàn Dù điều động pháo đội C
bắn trực xạ, dập tắt khẩu thượng liên của địch, binh sĩ
Tiểu đoàn 2 ND vừa bắn vừa xung phong chiếm lại cửa Đông
Ba.
- Ngày
8/2/1968 Tiểu Đoàn 9 ND tiếp tục vượt qua hồ Tịnh Tâm,
tái chiếm cửa Thượng Tứ.
Trận ác chiến giữa Lực lượng nhảy dù VNCH và hai Trung
đoàn của Việt côïng trong nội thành và các cửa thành kéo
dài 9 ngày đêm.
- Quân lực
Hoa kỳ nhảy vào trận chiến Huế ngày 7/2/1968. Lực lượng
đầu tiên tham chiến là hai Đại đội của Chiến đoàn RAY
của TQLC Hoa kỳ. Họ chỉ giải tỏa một phần rất nhỏ vùng
Quận 3 (Hữu Ngạn) nơi có BCH/MAC-V trú đóng.
Cũng nhờ vậy mà Trung Tá Phan văn Khoa, Tỉnh Trưởng kiêm
Tiểu khu trưởng Tiểu khu Thừa Thiên mới thoát được từ
bệnh viện Trung ương Huế về BCH/Tiểu Khu.
Ngày 8/2/68, 7 giờ sáng Trung Tâm Hành Quân Tiểu Khu,
qua hệ thống truyền tin, gọi tôi tŕnh diện Trung Tá
Tỉnh trưởng, Tiểu Khu Trưởng. Tôi vừa ngạc nhiên vừa
phân vân không biết chuyện ǵ, hỏi người bạn Trung úy
Trung Tâm Trưởng Hành Quân anh ta cũng chẳng biết chỉ
nói:
-
Trung úy sang TTHQ gặp Trung Tá gấp, ông đang đợi Trung
úy
Vừa gặp Trung Tá Tỉnh trưởng ông nói ngay:
-
Liên Thành, em đảm nhiệm chức vụ Quận Trưởng Quận III kể
từ giờ này, nhiệm vụ chính là hành quân phối hợp với
TQLC Mỹ trong vùng Quận III, truy bắt hết đám cơ sở Việt
côïng, t́m kiếm dân chúng c̣n trú ẩn tại nhà, bảo vệ, và
đưa họ về tạm trú tại trường Trung Học Kiểu Mẫu. Lực
lượng Cảnh sát có được bao nhiêu?
-
Tŕnh Trung tá 200 CSDC, khoảng 300 CSĐB tại hàng.
-
Tiểu khu sẽ tăng cường cho em 1 Đại đội Địa Phương Quân,
liên lạc TT/HQ và Thiếu tá Tố Tham mưu trưởng nhận lệnh
Hành Quân.
Trung tá Tỉnh trưởng ra lệnh một tràng dài không để cho
tôi hỏi một câu nào, tôi dành cắt ngang:
-
Tŕnh Trung Tá vậy CSĐB của Ty Cảnh Sát giao lại cho ai?
-
Kiêm luôn .
Trong mấy ngày liên tục, chúng tôi phối hợp cùng TQLC
Hoa kỳ, thật là nản ḷng, lính Mỹ hành quân theo lối đi
xem hoa, ngắm cảnh. Sáng sớm càfé thuốc lá xong, tà tà
xuất quân từ MAC-V, lục soát lên vùng bệnh viện Huế, rẽ
trái qua ngă sáu Lê Thánh Tôn, Lư Thường Kiệt, bắn tạch
tạch, đùng đùng vài ba phát, chiều rút quân về lại MAC-V
nghỉ ngơi.
Có
lẽ chuyện mua bán giữa Tổng Thống Mỹ, Quốc Hội Hoa Kỳ
với ông Hồ cùng Chính trị Bộ đảng Cọng sản Việt Nam chưa
xong, nên lính Mỹ mới đánh giặc kiểu ''trời ơi đất hỡi''
như vậy.
Chúng tôi nôn nóng, v́ đă bảy tám ngày thành phố không
có điện, không có nước, dân chúng bị kẹt tại nhà lấy ǵ
uống, lấy ǵ ăn, đó là chưa kể c̣n có rất nhiều đồng bào
bị thương v́ súng đạn của Việt cộâng, họ cần phải được
cứu giúp ngay, chỉ cần lực lượng Hoa Kỳ giải tỏa vùng
nào, chúng tôi sẽ nhào đến di tản đồng bào ra khỏi vùng
lửa đạn, đưa họ về trại tạm cư. Thế nhưng đă hai ngày
rồi, tính từ ngày mồng 7 Tết, lực lượng Hoa Kỳ vẫn chơi
tṛ đi dạo mát.
Trung tâm HQ/ Tiểu khu gọi tôi:
-
Thẩm quyền lớn muốn biết đám mắt xanh đă “lia” được vùng
nào rồi, ông đă đă gặp được số đồng bào nào kẹt trong
vùng chưa? đưa họ về gấp trường Kiểu Mẫu.
-
“Lia” cái đầu tui ! Tụi nó đi một đoạn rồi dừng lại bố
trí ngồi hút thuốc, chẳng đánh đấm ǵ cả. Việt cộng
trong vùng c̣n rất ít, chỉ bắn lẻ tẻ mà thôi.
Thiếu Tá Nguyễn Văn Tố, Tham mưu trưởng Tiểu Khu đă lớn
tiếng phản đối với viên Đại Tá Mỹ Cố vấn trưởng, và ngày
hôm sau ông tung lực lượng cơ hữu của Tiểu khu, cộng hai
đại đội của Thiếu tá Nguyễn Văn Tăng, Quận Trưởng Hương
Thủy tăng cường, tôi chỉ huy khoảng 300 CSDC và CSĐB
theo sau lực lượng Tiểu Khu. Lực lượng Tiểu Khu đă giải
toả một vùng dài từ bệnh viện Huế lên Toà Đại Biểu rẽ
trái về đến vùng An Cựu.
Khu vực ḍng Chúa Cứu Thế, An Cựu, cầu số Bảy, dân chúng
bị kẹt tại nhà rất đông, tôi dùng loa phóng thanh kêu
gọi đồng bào:
-
Tôi là Trung úy Liên Thành Phó trưởng Ty CSĐB, Quận
Trưởng Quận III, Quân đội và Cảnh Sát đă giải tỏa vùng
này, yêu cầu đồng bào rời nhà, di chuyển ra đường lớn,
chúng tôi sẽ đón và đưa đồng bào về trường Kiểu Mẫu tạm
trú, an toàn hơn.
Trong khi lực lượng Cảnh Sát Đặc Biệt đang âm thầm truy
bắt những cơ sở Việt cộïng nằm vùng, mà mấy ngày trước
đây đă bắt đi hơn 300 đồng bào tại ḍng Chúa Cứu Thế,
th́ lực lượng Tiểu Khu yểm trợ cho CSDC di tản đồng bào,
dọc đường Duy Tân băng qua cánh đồng An Cựu về trại tạm
cư ở trường Trung học Kiểu Mẫu. Tổng cộng có khoảng gần
bốn trăm đồng bào, đă được giải thoát và đưa về trại tạm
cư.
Những ai đă chứng kiến cảnh đồng bào chạy giặc băng qua
cánh đồng An Cựu trong cơn mưa phùn gió bấc của những
ngày Mậu Thân, cho dù ḷng dạ có cứng rắn đến đâu cũng
không khỏi chảy đôi gịng lệ xót thương. Đồng bào chạy
trong làn mưa bụi và gió lạnh cắt da, họ phờ phạc, đói
khát, hoảng sợ, mẹ ôm con, bà ôm cháu, con cơng cha già
chạy lúc thúc. Lính và Cảnh Sát dẫn họ chạy để thoát
khỏi ṿng lửa đạn, họ không khóc, không la, im lặng âm
thầm, câm nín, chiïu đựng tột cùng của khổ nạn, cố gắng
vượt qua cánh đồng An Cựu, chỉ dài khoảng hơn cây số là
đến nơi an toàn, trường Kiểu Mẫu, mà xem chừng như xa
vạn dặm.
Trở lại với toán Đặc nhiệm CSĐB đang truy lùng đám Cộng
sản nằm vùng và những tên An ninh Thành của Bảy Lanh, đă
từng bắt 300 đồng bào tại nhà thờ ḍng Chúa Cứu Thế, và
đă tàn sát quá nhiều đồng bào, anh em quân đội, Cảnh
sát, cán bộ chính quyền, mà bọn chúng đă bắt được.
Trưởng Toán Đặc nhiệm là anh Nguyễn Bá Sơn, sau hai giờ
lục soát đă gọi tôi:
-
Chúng tôi đă bắt được 6 tên, bọn chúng khai là An ninh
thành của Bảy Lanh, và hai cha con Thiên Tường, thằng
con thứ 3 của Thiên Tường chúng tôi không t́m ra, không
biết hắn trốn ở đâu.
-
Anh em có bị thiệt hại ǵ không?
-
Bị bọn này bắn, ḿnh 3 anh em bị thương, một rất nặng,
cần tải thương gấp.
-
Tôi nhận rơ, sẽ cho xe đến chở ngay.
-
Tŕnh thẩm quyền 6 tên kia và hai cha con Thiên Tường
th́ sao? Đưa về Trung Tâm Thẩm Vấn?
Nghĩ đến 300 người đă bị bị bọn chúng bắt dẫn đi, chỉ 1
phần sống, 9 phần chết, và vài trăm người đă bị bọn
chúng hạ sát tại chỗ, tôi thét to trong máy truyền tin:
-
Thuyên chuyển tất cả bọn chúng về Vùng 6 Chiến Thuật.
-
Nhận rơ thẩm quyền.
Chiều đến v́ không đủ lực lượng, Thiếu tá Tham mưu
trưởng cho lệnh rút về, tối đến Việt cộng lại tràn vào
chiếm cứ toàn vùng.
Lính Mỹ thật sự tham chiến đánh đấm đàng hoàng vào ngày
11 Tết (âm lịch), tức là ngày 9 tháng 2/1968 (dương
lịch).
Đến ngày 10 tháng 2/1968, nhiều đơn vị TQLC/Hoa kỳ hoặc
bằng đường bộ, hoặc trực thăng vận nhảy xuống quận III,
tấn công toàn vùng, đẩy bọn Việt cộng ra khỏi Quận III
và làng Phủ Cam.
Trận chiến tại Quậân III xem như kết thúc, năm cây cầu
tại Quận 3 bắc ngang gịng sông An Cựu th́ cầu An Cựu,
Cầu Kho Rèn, Cầu Bến Ngự, bị Việt cộng giựt xập hoàn
toàn không xử dụng đuợc, cầu Nam Giao và cầu Ga cũng bị
hư hại rất nặng, nhưng c̣n xử dụng tạm được. Nhà cửa,
dinh thự trong quận bị thiệt hại nặng nề, Ty Bưu điện
Huế không c̣n nh́n ra, hầu như đổ nát hoàn toàn.
Nhưng quan trọng nhất là sinh mạng đồng bào, chết quá
nhiều, đại đa số là bị Cộng sản sát hại, một số ít bị
bom rơi đạn lạc, xác chết đă śnh thối, ở đâu cũng có,
trong nhà, ngoài vườn , đường lớn, đường nhỏ.
Trong khi đó th́ chiến sự vẫn tiếp diễn khốc liệt tại
Quận II (Tả Ngạn) và Quận I (Thành nội).
Ngày 12 tháng 2/1968, Chiến đoàn A TQLC Quân lực VNCH
gồm các tiểu đoàn 3 ,4, 5 thay thế chiến đoàn Dù, tiếp
tục tấn công giải toả áp lực địch tại sân bay Tây Lộc,
Đại Nội, khu Kỳ Đài.
Các đơn vị TQLC Hoa Kỳ cũng theo chân TQLC Việt Nam Cộng
Hoà, đổ bộ lên Bao Vinh, đột nhập Thành Nội.Toàn bộ mặt
trận tại Quận Thành Nội (Quận I) kể từ ngày 12 tháng
2/1968 được chia vùng trách nhiệm như sau:
1-
Phường Tây Linh, Tây Lộc trong đó có cửa Chánh Tây do
trung Đoàn 3/SĐI của Trung tá Phan Bá Ḥa chịu trách
nhiệm.
2- Phía đông Đại Nội, cửa Thượng Tứ, cửa Đông Ba do
Tiểu đoàn 1/5 TQLC/Hoa kỳ và đại đội Trinh sát Sư đoàn I
chịu trách nhiệm.
3-
Tây-Nam Thành nội do Chiến đoàn A TQLC/VNCH chịu trách
nhiệm.
4- Khu Đại Nội do Đại đội Hắc Báo của Sư Đoàn I chịu
trách nhiệm, được tăng cường một đơn vị TQLC/Hoa Kỳ.
V́
thời tiết quá xấu nên không yểm đă bị hạn chế tối đa,
đến ngày 15 tháng 2/1968, lần đầu tiên sau 15 ngày Huế
có ánh mặt trời, Quân lực VNCH và Hoa kỳ phản công mạnh,
nhiều trận đánh khốc liệt đă xảy trong toàn khu vực Quận
I.
Đặc biệt, khu vực cam go và khốc liệt nhất là khu cửa
Đông Ba, vùng trách nhiệm của Đại đội Trinh Sát Sư đoàn
I, phối hợp cùng Tiểu đoàn 1/5 TQLC/Hoa kỳ.
Chính tên Đại Tá Lê Tư Minh, Tư lệnh mặt trận Huế của
Việt cộng đă phải xác nhận: ''Trận đánh khốc liệt nhất
là tại cửa Đông Ba, nhiều khi hai bên ta và lính Ngụy
chỉ cách nhau vài chục mét ''.
Có
lẽ Lê Tư Minh chưa bao giờ đọc lịch sử, nên không biết
''Tổng Thống Quân Vụ Đại Thần Nguyễn Tri Phương'', dưới
triều đại Vua Tự Đức là ai, Ông là một Đại danh Tướng,
một vị Tướng soái của dân tộc Việt Nam, kẻ đă giữ thành
Hà Nội khi ở tuổi 74, đă chống trả lại cuộc tấn công của
quân đội Pháp do Garnier chỉ huy tấn công thành Hà Nội
vào ngày 20/11/1873.
Và
bây giờ thời điểm tháng 2/1968, năm Mậu Thân tại Cố Đô
Huế, lực lượng của Đại Tá Lê Minh Tư lệnh mặt trận Huế,
đă đụng đầu với cháu nội của ''Tổng Thống Quân Vụ Đại
Thần Nguyễn Tri Phương'’, Đại úy Nguyễn Tri Tấn, Đại đội
trưởng Đại đội Trinh sát Sư Đoàn I. Đương nhiên lực
lượng của Đại tá Lê Minh phải thảm bại dưới tay Đại úy
Nguyễn Tri Tấn - Ngày 18 tháng 2/1968 Đại úy Nguyễn Tri
Tấn và đại đội Trinh sát của ông ta cùng với Tiểu đoàn
1/5 TQLC/Hoa kỳ đă đánh bật quân Việt cộng và hoàn toàn
chiếm lại cửa Đông Ba.
Ngày 23 tháng 2/1968, trận chiến quyết liệt giữa đơn vị
VNCH với đơn vị Việt cộng đang chiếm giữ Kỳ Đài. Trận
chiến kéo dài suốt ngày, đến 5 giờ 12 phút chiều ngày
23/2/1978, quân ta đă làm chủ Kỳ Đài.
Sáng sớm ngày 24 tháng 2/1968, một đơn vị của Sư đoàn I
BB, lên kỳ đài làm lễ thượng kỳ, muôn ngàn giọt lệ tuôn
rơi của người dân Huế, khi nh́n thấy lá cờ thân yêu phất
phới trên kỳ đài Ngọ Môn.
Chiến sự tại Quận I Thành nội đă tạm lắng dịu, tại Quận
II, Việt cộng vẫn c̣n chiếm giữ. Danh dự và Trách nhiệm
này dành cho Tiểu Đoàn 39, và 21 Biệt Động Quân nhận
lănh.
Ngày 22 tháng 2/1968, hai Tiểu Đoàn Biệt Động Quân 21 và
39 nhập trận.
Xuất phát từ Quận III, họ tiến quân về Vỹ Dạ và từ đó
đạp chân lên vùng Gia Hội, Quận II, nơi cộng quân đang
chiếm giữ.
Tiểu đoàn 39, 21 BĐQ lănh phần trách nhiệm thanh toán
cộng quân tại vùng Gia Hội. Gia Hội là khu đông dân cư
nhất tại Quận II, khu thương mại của thành phố Huế, nhà
cửa san sát nhau, dăy phố này nối liền với khu phố kia.
Bọn Việt Cộng bám sát dân, bám sát từng khu phố, đục
vách phá tường, di chuyển trong nhà, từ nhà này sang nhà
kia, kháng cự lại với Tiểu đoàn 39, 21 BĐQ.
Thế nhưng Tiểu đoàn 39 và 21 BĐQ đă tạo được danh dự cho
chính họ, cho quân lực VNCH, nhận lănh thương yêu và
ḷng biết ơn của dân chúng Huế, khi họ dùng chiến thuật
tác chiến trong thành phố, chấp nhận thiệt hại cho chính
đơn vị họ, cận chiến với quân thù để không gây đổ nát,
và bảo vệ tối đa sinh mạng của đồng bào trong vùng Gia
Hội.
Gia Hội là một chiến trường đầy trắc trở và cam go, một
trách nhiệm nặng ngàn cân mà Tổ quốc và đồng bào giao
cho Tiểu đoàn 39, 21 BĐQ nhận lănh, trách nhiệm tiêu
diệt quân thù, bảo vệ sinh mạng và tài sản của đồng bào,
trong một trận chiến ác liệt, khi kẻ thù dùng chiến
thuật trộn lẫn dân với bọn chúng, để tạo khó khăn cho
tiểu đoàn 39, 21 BĐQ.
Tiểu đoàn 39 và 21 BĐQ đă hoàn tất nhiệm vụ, họ đánh bật
kẻ thù ra khỏi dân mà không gây tổn thương một sinh mạng
nào cho dân chúng, họ đánh bật kẻ thù ra khỏi nhà cửa,
tài sản của dân mà không gây một đỗ vỡ sứt mẻ nào, và
dứt điểm tiêu diệt Bộ chỉ huy của Cộng quân tại chùa
Tăng Quan Tự , Therevada.
Cuối cùng Tiểu Đoàn 39, 21 BĐQ là đơn vị khoá sổ cuộc
chiến 26 ngày tàn bạo và đau thương tại Huế.
Ngày 26 tháng 2/ 1968 trận chiến Mậu Thân tại Huế chấm
dứt.
Huế thật sự là một chiến trường đổ lửa đúng nghĩa, cũng
là chiến trường danh dự của người lính VNCH, của quân
dân Huế, quyết giữ Huế, cho dù phải trả một giá quá đắt,
bằng máu đă chảy thành sông, xương trắng đă ngập đầy
đồng, trước cuồng vọng quyết chiếm Huế quyết đoạt Huế
của đảng Cộng sản miền Bắc. Bọn chúng đă không thành
công, không chiếm được Huế, đă bị đánh bật ra khỏi Huế.
Huế trước Mậu Thân, dân chúng sửa soạn đón xuân trong
niềm hân hoan của những ngày thanh b́nh, hưu chiến.
Huế trong những ngày Tết Mậu Thân, dân chúng đón xuân
trong kinh hoàng, trong máu và nước mắt, trong thây
người, xác chết.
Huế sau ngày Tết Mậu Thân, dân chúng đón xuân trong
hoang tàn, tang tóc, trong ngậm ngùi, trong chờ đợi
người thân, những người đă bị Việt cộng bắt đi chưa trở
về.
Nhưng rồi, giờ qua giờ, ngày qua ngày, tháng qua tháng,
năm qua năm, họ chợt hiểu những người thân yêu của họ đă
bị Việt Cộng bắt đi, vĩnh viễn, ngàn đời sẽ không bao
giờ trở lại. V́ tất cả đă bị giết chết bằng chôn sống,
bằng mă tấu, bằng vật nặng đập vào đầu, và thân xác
nguớ thân bị vùi lấp trong hố cạn, hầm sâu, đây đó trên
vùng đất Thừa Thiên-Huế.
Huế sau Mậu Thân là khăn tang, áo chế, là hàng ngàn cỗ
quan tài đầy đường, đầy phố. Huế phủ kín một giải khăn
tang trắng, kéo dài từ thành phố lên đến Ba Đồn, nơi an
nghỉ tập thể của hàng ngàn dân lành vô tội, nạn nhân của
một cuộc giết chóc tàn bạo, bởi quân đội Nhân dân miền
Bắc, quân Giải Phóng miền Nam, đă thi hành lệnh tàn sát
của Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị Trung ương đảng Cộng sản
Việt Nam.
********
Xem tiếp:
|